Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2019

Ăn thừa muối là nguyên nhân dẫn đến bệnh tăng huyết áp


Mua bán thuốc tây - Có nhiều nguyên nhân gây bệnh tăng huyết áp (THA) như thừa cân, ăn mặn, hút thuốc lá, ăn nhiều chất béo,...
Trong đó, ăn thừa muối không chỉ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp mà còn có thể gây ra nhiều bệnh tim mạch nguy hiểm khác. Vì vậy, kiểm soát lượng muối ăn trong ngày cũng là cách tốt để kiểm soát huyết áp.

Ăn thừa muối với nguy cơ THA, bệnh tim mạch
Muối là chất khoáng cần thiết trong cơ thể, giúp kiểm soát cân bằng dịch, dẫn truyền thần kinh và chức năng khối cơ. Theo khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, mỗi người chỉ nên tiêu thụ không quá 5g muối/ngày. Tuy nhiên, thực tế theo số liệu điều tra, người Việt đang tiêu thụ trung bình lượng muối lên tới 9,4g/ngày. Và chế độ ăn thừa muối tiềm ẩn nguy cơ cao dẫn tới THA cũng như các bệnh tim mạch.
Cơ chế gây THA của natri trong muối như sau:
Ở những người đã có sẵn yếu tố di truyền, nếu ăn nhiều muối sẽ làm tăng tính thẩm thấu của màng tế bào đối với natri. Ion Na+ sẽ được vận chuyển nhiều vào tế bào cơ trơn của thành mạch, gây tích nước trong tế bào, tăng trương lực thành mạch, co mạch, tăng sức cản ngoại vi và dẫn tới THA;
Nồng độ muối của các chất dịch trong cơ thể là ổn định. Ăn nhiều muối làm tăng áp lực thẩm thấu trong máu, khiến cơ thể phải cần thêm nước để duy trì ổn định nồng độ dịch thể. Để đáp ứng yêu cầu này, cảm giác khát nước sẽ xuất hiện, làm cho người ăn mặn phải uống nhiều nước, dẫn tới làm tăng dung lượng máu và tăng áp lực lên thành mạch. Hiện tượng này kéo dài có thể dẫn đến THA.


Ăn nhiều muối kết hợp với những yếu tố gây sang chấn tinh thần sẽ làm tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm, tăng khả năng tái hấp thu natri ở ống thận. Lượng lớn ion na+ sẽ được đưa vào trong tế bào cơ trơn, gây co mạch, tăng sức cản ngoại vi và dẫn tới THA.
Ăn mặn trong khi đã bị THA có thể thiếu yếu tố nội tiết thải muối, làm Natri bị tích tụ trong cơ thể và ion Na+ tiếp tục bị vận chuyển nhiều vào tế bào cơ trơn gây THA;
Muối làm tăng độ nhạy cảm của hệ tim mạch và thận đối với adrenaline - một chất gây THA.
Ngoài ra, khi ăn quá nhiều muối, các loại thuốc điều trị huyết áp như thuốc lợi tiểu sẽ không thể hoạt động tốt. Và huyết áp tăng lên sẽ làm tăng cường độ làm việc của hệ tim mạch, thận và hệ tiết niệu, gây ra nhiều nguy cơ cho sức khỏe như đột quỵ và suy tim, suy thận. Đặc biệt, nếu đã mắc các bệnh THA, suy gan, suy tim và suy thận, thói quen ăn nhiều muối sẽ làm bệnh tiến triển nhanh hơn.


Chế độ ăn nhiều muối ở trẻ em cũng có ảnh hưởng lớn tới huyết áp, làm tăng khả năng mắc THA và nhiều bệnh lý khác. THA ở trẻ em còn để lại hậu quả THA khi đến tuổi trưởng thành và làm tăng nguy cơ biến chứng của THA do mắc bệnh sớm, thời gian mắc bệnh kéo dài.
Nên thay đổi thói quen ăn mặn như thế nào?
Thói quen ăn thừa muối gây ra khá nhiều hệ lụy đối với sức khỏe. Và giảm ăn muối chính là giải pháp giúp giảm nguy cơ mắc bệnh THA, bệnh tim mạch cũng như nhiều vấn đề sức khỏe khác. Vì vậy, để huyết áp giảm được từ 2-8mmHg, giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, tim mạch cần chú ý đảm bảo lượng muối nạp mỗi ngày nên dưới 5g.
Ưu tiên chọn thực phẩm tươi thay vì các món ăn mặn thường ngày được chế biến sẵn như thịt muối, cá hộp, thịt xông khói, xúc xích, giò chả, dưa muối, cà muối, mì ăn liền, bim bim, hạt điều rang muối,... Nguyên nhân là vì các thực phẩm chế biến sẵn thường được cho thêm nhiều muối để có thể bảo quản được lâu. Nếu vẫn muốn ăn các thực phẩm này, người dùng nên chọn sản phẩm có hàm lượng muối thấp hơn (xem thành phần muối hoặc natri ghi trên nhãn dinh dưỡng thực phẩm).


Chọn cách chế biến món ăn: nên chế biến món luộc, hấp thay vì món cần nhiều gia vị mặn trong quá trình chế biến như món kho, rim, rang,... để làm giảm lượng muối ăn vào hằng ngày từ các loại đồ ăn mặn.
Khi nấu nướng, nếu muốn gia giảm gia vị mặn, người nấu nên nếm thức ăn trước khi thêm gia vị để đảm bảo cho vào lượng vừa đủ, không cho quá nhiều. Ngoài ra, mì chính là gia vị có vị ngọt nhưng trong thành phần có natri - tương tự thành phần chính của muối ăn nên người nội trợ cũng nên hạn chế dùng mì chính để tăng vị ngọt của món ăn.
Nên giảm ăn muối một cách từ từ để cơ quan cảm nhận vị giác có thể dần thích nghi. Giảm lượng gia vị mặn chứa nhiều muối cho vào món ăn bằng cách chế biến với các loại gia vị khác để tăng cảm giác của vị giác.
Tự nấu ăn ở nhà để chủ động kiểm soát lượng muối ăn vào một cách tốt nhất.
Hạn chế chấm nước mắm, bột canh,... Tốt nhất, khi ăn các loại nước chấm trên người dùng nên pha loãng, dùng thêm các gia vị khác như chanh, ớt, tỏi để tăng vị giác, bù cho vị mặn bị bớt đi.
Nên sử dụng muối và bột canh có chứa iốt để phòng chống bướu cổ, thiểu năng trí tuệ và các rối loạn khác do thiếu iốt.
Giảm dần gia vị khi nấu ăn: dùng gia vị khác như chua, cay hoặc các loại rau thơm phối hợp khi chế biến để làm tăng vị ngon của thực phẩm và giảm độ mặn...
Xem thêm các sản phẩm thuốc tim mạch khác tại đây hoặc liên hệ 0336.443.776 để được tư vấn miễn phí

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2019

Thực phẩm gây suy thận nhanh khủng khiếp


 Ăn nhiều thịt, đường, nước xốt, thực phẩm chế biến sẵn, 'nghiện' nước uống có gas, bia rượu... là thói quen 'sát thủ' khiến nhiều người Việt bị bệnh suy thận nhanh khủng khiếp
Theo Y khoa, thận có 4 chức năng chính: Giữ cân bằng dịch trong cơ thể, các chất khoáng mà cơ thể cần để duy trì hoạt động bình thường, nhất là chất kali để kiểm soát hoạt động của thần kinh và cơ, quá nhiều hay quá ít kali cũng có thể gây ra yếu cơ và vấn đề cho tim; loại bỏ các sản phẩm giáng hóa của protein (trong thực phẩm) như urê, creatinine (tạo ra trong tiến trình vận động cơ bắp); giải phóng một số hormon thiết yếu vào máu như renin (điều hòa huyết áp), erythropoietin (EPO) giúp tủy xương tạo hồng cầu và hoạt hóa Vitamin D để hấp thụ canxi trong thức ăn nhằm tăng cường cho xương.

Theo PGS.TS Đinh Thị Kim Dung, nguyên Trưởng khoa Thận Tiết niệu (Bệnh viện Bạch Mai) số bệnh nhân bị suy thận những năm gần đây ngày một tăng. Bệnh nhân suy thận thường đến trong tình trạng chức năng thận suy giảm hoặc đã suy ở giai đoạn cuối.
Hậu quả của căn bệnh này khá nặng nề. Khi bệnh thận có diễn biến xấu thì nhiều vấn đề sức khỏe có thể xảy ra như thiếu máu, bệnh xương, tổn thương thần kinh và tăng huyết áp. Tổn thương thần kinh ngoại biên sẽ gây yếu chân, tay hay có cảm giác kiến bò, cảm giác nóng rát hay khó chịu và bứt rứt ở bàn chân, cẳng chân, dáng đi thay đổi...
Thói quen lối sống ăn uống không lành mạnh, rượu bia, thuốc lá, lạm dụng dùng thuốc là một trong những nguyên nhân gây ra tổn thương thận không phục hồi (suy thận mãn tính).
Uống rượu bia có thể gây hại cho gan và thận: Đặc biệt các loại rượu tự nấu có chứa nhiều độc tố như: acid acetic, aldehyd, methanol có thể gây ra ngộ độc. Bệnh nhân bị ngộ độc rượu có thể bị vô niệu do hoại tử ống thận cấp và cuối cùng là suy thận.
Ăn quá nhiều thịt: Người thường xuyên ăn thịt sẽ có nguy cơ suy thận cao gấp 3 lần những người không ăn. Thay vì thịt, bạn nên ăn nhiều trái cây và rau xanh để bảo vệ 2 quả thận.
Nước sốt: Ẩm thực Việt Nam nổi tiếng về các loại nước chấm và nước sốt. Tuy nhiên, chúng chứa đầy natri, chất gây cao huyết áp và cũng dẫn đến nguy cơ bệnh thận.
Nước ngọt có gas: Loại đồ uống này chứa nhiều chất rất hại cho sức khỏe, uống hàng ngày sẽ có nguy cơ mắc chứng proteinuria (hàm lượng protein trong nước tiểu quá nhiều).
Trong trường hợp này, sự bài tiết protein trong nước tiểu gia tăng, nghĩa là thận đã bị tổn thương
Đường: Nhiều người rất thích ăn đường, nấu canh cũng nêm đường, cháo, hủ tiếu... gì cũng thêm đường mà hoàn toàn không biết rằng đường chứa đầy fructose.


Việc tiêu thụ quá nhiều đường thúc đẩy sự hình thành axit uric, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Các bệnh này ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng thận cũng như sức khỏe hệ tim mạch.
Đồ uống có cồn: Chất cồn có thể khiến bạn bị lắng đọng axit uric trong ống thận gây ra chứng tắc nghẽn ống thận làm tăng nguy cơ suy thận và các bệnh khác về thận.
Đồng thời, những độc tố có trong đồ uống có cồn đòi hỏi thận phải làm việc hết công suất để đào thải chúng. Điều này cũng khiến thận của bạn bị quá tải và dễ suy yếu.
Thuốc giảm đau: Mỗi khi bị đau đầu, đau bụng kinh... nhiều người thường uống thuốc giảm đau mà không biết việc sử dụng thuốc lâu dài hoặc với liều lượng cao có thể gây tổn hại mô thận, giảm lưu lượng máu đến cơ quan này, từ đó dẫn đến tổn thương hoặc suy thận.
Muối: Muối chứa nhiều natri, làm huyết áp của bạn tăng lên. Thận đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh huyết áp. Các nghiên cứu cho thấy hấp thụ lượng muối nhiều sẽ ảnh hưởng đến chức năng thận và là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến các trường hợp suy thận.
Viên uống bổ sung vitamin C: Theo một nghiên cứu tiến hành bởi Viện Karolinska ở Stockholm, Thụy Điển, việc tiêu thụ viên uống bổ sung vitamin C hàng ngày làm tăng gấp đôi nguy cơ bị sỏi thận ở nam giới. Nguyên nhân là do một phần vitamin C cơ thể hấp thụ sẽ được bài tiết ra đường nước tiểu dưới dạng oxalate, một trong những thành phần chính của sỏi thận.
Muối chứa nhiều natri, làm huyết áp của bạn tăng lên. Thận đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh huyết áp. Các nghiên cứu cho thấy hấp thụ lượng muối nhiều sẽ ảnh hưởng đến chức năng thận và là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến các trường hợp suy thận. 
Sản phẩm làm sáng da: Hầu hết các sản phẩm làm sáng da đều chứa hydroquinone hoặc thủy ngân. Đây là hai hóa chất chính dẫn đến suy thận và nhiễm độc thủy ngân do lượng kim loại tích lũy dần trong các tế bào da.
Thực phẩm chế biến sẵn: Trong thực phẩm chế biến sẵn có rất nhiều chất bảo quản. Khi chất này vào trong cơ thể sẽ tích tụ lại khiến khả năng đào thải độc tố của gan và thận bị quá tải và trở nên vô hiệu hóa, ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng của gan và thận.
Hơn nữa, hay ăn thực phẩm chế biến sẵn, bạn sẽ nạp vào cơ thể một lượng lớn protein, đường fructose. Những chất này sẽ thúc đẩy sự hình thành axit uric, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
Các bệnh này có ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng thận cũng như sức khỏe của các cơ quan khác như hệ tim mạch.
Xem các bài viết khác về bệnh thận tại:  Trang Chủ << Tin tức

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2019

Tầm soát ung thư qua khám sức khỏe định kỳ



Bác sĩ chuyên khoa ung thư mách bạn những lợi ích của khám sức khỏe định kỳ tới việc phát hiện sớm bệnh ung thư


Khám sức khỏe định kỳ hay còn gọi là kiểm tra sức khỏe định kỳ, là việc làm vô cùng cần thiết và quan trọng đối với mỗi người. Khám sức khỏe định kỳ nhằm phát hiện các vấn đề bất thường về sức khỏe ở giai đoạn sớm. Qua đó, bác sĩ sẽ có hướng điều trị hiệu quả, khả năng lành bệnh cao hơn, tiết kiệm được thời gian, tiền bạc và tránh được các biến chứng do bệnh gây ra, kéo dài tuổi thọ.
Theo các bác sĩ,  ngay cả khi bạn thấy dường như hoàn toàn khỏe mạnh, điều đó không có nghĩa là bạn sẽ không có nguy cơ mắc căn bệnh nào đó. Đặc biệt, với bệnh ung thư, việc khám sức khỏe định kỳ là vô cùng cần thiết để phát hiện sớm và điều trị bệnh hiệu quả, thậm chí khỏi bệnh. Song,  thực tế cho thấy có đến hơn 70% trường hợp ung thư tới bệnh viện khi đã ở giai đoạn muộn khiến việc chữa trị vô cùng khó khăn.
Khám sức khỏe định kỳ lợi ích bất ngờ
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Vân Hồng, nguyên Phó trưởng khoa Tiêu hóa, BV Bạch Mai, khám sức khỏe định kỳ rất quan trọng đối với sức khỏe mỗi người dân. Tuy nhiên, việc khi khám này lại ít người quan tâm. Khi khám sức khỏe định kỳ thường xuyên ngoài phát hiện sớm ung thư, người bệnh còn được phát hiện sớm bệnh lý về nhiễm khuẩn, nhiễm virus, các bệnh về chuyển hóa như bệnh tiểu đường, các bệnh tim mạch như tăng huyết áp, bệnh về hô hấp…Cho nên việc đi khám định kỳ và tầm soát sớm nhằm phát hiện ra bệnh sẽ giúp việc chữa trị hiệu quả hơn, tiết kiệm được thời gian và chi phí hơn...

Đồng quan điểm trên, PGS.TS Phạm Cẩm Phương, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, BV Bạch Mai cũng cho rằng,  việc khám sức khỏe định kỳ không chỉ  duy nhất để phát hiện ung thư mà còn có thể phát hiện được các bệnh khác nữa như ví dụ như tình trạng bệnh lý nhiễm virus, vi khuẩn, tình trạng viêm gan b,C, hoặc các bệnh lý liên quan đến rối loạn chuyển hóa như  các bệnh chuyển hóa mỡ, bệnh liên quan đến tim mạch tiểu đường, huyết áp thông qua kiểm tra khám sức khỏe định kỳ là có thể phát hiện sớm được.
PGS. Phương cũng cho hay, với bệnh ung thư nếu phát hiện sớm có thể chữa khỏi, hoặc một số bệnh ung thư có thể phẫu thuật bảo tồn mà không cần phải áp dụng các biện pháp khác như xạ trị. Ung thư nếu phát hiện ở giai đoạn sớm điều trị cho hiệu quả tối ưu, thậm chí một số loại ung thư nếu phát hiện sớm có thể khỏi được mà chi phí  thấp nhất.
“Có một thực tế là nhiều  người tự nghĩ ra là sẽ đi khám tầm soát ung thư bệnh gì mà không cần có ý kiến của bác sĩ.  Sở dĩ như vậy vì mọi người chưa hiểu rằng đối với việc tầm soát ung thư thì ngoài việc bác sĩ hỏi tiền sử bệnh của bạn, triệu chứng bệnh của bạn còn một việc rất quan trọng đó là  hỏi tiền sử gia đình bố mẹ anh chị em, ông bà của bạn xem đã có ai từng mắc ung thư, mắc ung thư loại nào để từ đó bác sĩ sẽ chỉ định cho bạn làm các xét nghiệm cận lâm sàng phù hợp. Do đó, điều quan trọng là bạn phải  đến với các bác sĩ, bác sĩ sẽ thăm khám, đồng thời hỏi tiền sử bệnh của bạn, tiền sử bệnh của gia đình bạn, qua đó bác sĩ sẽ  khuyên bạn nên khám gì, xét nghiệm gì tầm soát gì để phù hợp với bạn”. PGS Phương nói.
PGS. Phương cũng cho biết thêm, đến thời điểm hiện tại thì ở Việt Nam thì ung thư gan vẫn đứng hàng đầu về cả tỷ lệ mắc cũng như tỷ lệ tử vong. Đa số các bệnh nhân ung thư gan đến khám thì bệnh đã giai đoạn muộn, kích thước khối u đã to. Việc phát hiện sớm bệnh ung thư gan ở Việt Nam thường rất thấp, chủ yếu được phát hiện khi khám sức khỏe định kỳ hoặc tình cờ làm xét nghiệm máu, siêu âm ổ bụng bác sĩ thấy bất thường ở gan. Trong khi đó ở Nhật họ có chương trình sàng lọc khám sức khỏe định kỳ, nên họ phát hiện rất sớm bệnh ung thư gan, có đến hơn 90% số bệnh nhân được sàng lọc tốt ở giai đoạn sớm khi khối u còn rất nhỏ dưới 2cm. Theo đó, khám sức khỏe định kỳ vô cùng quan trọng để kiểm soát bệnh sớm, đặc biệt là ung thư.
Độ tuổi nào và những ai nên thực hiện tầm soát ung thư?
PGS. Phương cho rằng, về độ tuổi để tầm soát bệnh ung thư thì không có một chuẩn mực nhất định nào để quy định ở lứa tuổi này hay lứa tuổi kia thì  chắc chắn cần tầm soát ung thư. Các chương trình tầm soát sớm bệnh ung thư thì thường tập trung vào các bệnh mà có thể sàng lọc phát hiện sớm được, mà chi  phí sàng lọc phát hiện sớm lại ở mức độ đơn giản. Theo đó, khuyến cáo phổ biến độ tuổi sàng nên khám sức khỏe định kỳ là khoảng 40 tuổi.
Tuy nhiên, theo Giám đốc Trung tâm y học hạt nhân và ung bướu, có những bệnh như ung thư vú, ung thư đại trực tràng mà người trong gia đình có tiền sử thì những người nằm trong đối tượng này không phải chờ đến 40 tuổi mới đi tầm soát mà được khuyến cáo đi kiểm tra và tầm soát sớm. Hoặc, với những bệnh nhân mà bị nhiễm virus viêm gan B, C lại cộng thêm hay uống rượu thì nguy cơ mắc ung thư gan rất cao, vì vậy với những người thuộc đối tượng này thì nên được sàng lọc phát hiện sớm ung thư gan mỗi 4-6 tháng/ lần.  Do đó, việc tầm soát ung thư ở độ tuổi nào còn  tùy vào yếu tố gia đình, tình trạng bệnh cảnh của tường người.
Vì vậy, PGS. Phương khuyến cáo, dù ở độ tuổi nào bạn cũng nên để ý tình trạng sức khỏe của mình, nếu bạn thấy trong cơ thể mình có cảm giác bất thường như đau họng, đau ngực, ra máu âm đạo hay bất kỳ điều gì bất thường nên khám ngay. Tốt nhất nên thường xuyên khám sức khỏe định kỳ, có thể khám sức khỏe định kỳ không thể phát hiện ngay ra bệnh nhưng những chỉ số qua các xét nghiệm cận lâm sàng nó bất thường ở chỗ nào sẽ là “chỉ điểm” giúp bác sĩ có định hướng về bệnh của bạn từ đó có những lời khuyên hữu ích cho bạn.
Nguồn: skđs
Tham khảo trang mua bán thuốc tây để có thêm nhiều thông tin về các sản phẩm thuốc đặc trị